May hàng xuất khẩu sang thị trường Mỹ, EU tại Công ty may Maxport Thái Bình. Ảnh: Trần Việt/TTXVN
Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) cho biết, một trong những tác động trực diện nhất của cuộc xung đột Trung Đông với doanh nghiệp là chi phí logistics tăng mạnh. Nhiều tuyến hàng hải quốc tế buộc phải thay đổi lộ trình nhằm tránh các khu vực rủi ro, khiến thời gian giao hàng kéo dài thêm từ 14 - 20 ngày, thậm chí lâu hơn.
Việc kéo dài thời gian vận chuyển không chỉ ảnh hưởng đến tiến độ giao hàng mà còn làm gia tăng chi phí lưu kho, chi phí vốn và rủi ro vi phạm hợp đồng. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc chậm giao hàng có thể khiến doanh nghiệp mất uy tín với đối tác, kéo theo nguy cơ bị cắt giảm hoặc chuyển đơn hàng.
Ở trong nước, giá nhiên liệu tăng khiến chi phí vận chuyển hàng hóa và vận hành nhà máy đều tăng theo. Đây là áp lực kép đối với doanh nghiệp, bởi logistics nội địa là mắt xích không thể tách rời trong chuỗi sản xuất - xuất khẩu.
Tuy nhiên, theo đại diện VITAS, áp lực lớn hơn hiện nay lại đến từ nguyên vật liệu. Khoảng 70% nguyên liệu của ngành dệt may, đặc biệt là polyester, vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu. Khi xung đột xảy ra tại các khu vực sản xuất dầu mỏ, giá nguyên liệu có nguồn gốc hóa dầu tăng mạnh, khiến chi phí sản xuất bị đẩy lên đáng kể. Chưa dừng lại ở đó, rủi ro gián đoạn nguồn cung khiến doanh nghiệp ngày càng khó chủ động trong kế hoạch sản xuất. Hiện tại, doanh nghiệp không thể dự báo chính xác thời gian giao nguyên liệu cũng như biến động giá trong tương lai.
Ở ngành da giày, áp lực chi phí và nguyên liệu cũng ngày càng rõ nét hơn. Theo bà Phan Thanh Xuân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Da giày - Túi xách Việt Nam (Lefaso), chi phí logistics của ngành đã tăng khoảng 15%, trong khi một số nguyên vật liệu có nguồn gốc từ dầu mỏ như hóa chất đã tăng tới 30%. Điểm khó khăn lớn nhất là phần lớn doanh nghiệp đã ký kết hợp đồng và chốt giá với đối tác từ trước. Việc chi phí đầu vào tăng đột biến khiến doanh nghiệp rơi vào thế “kẹt biên lợi nhuận”, không thể điều chỉnh giá bán tương ứng. Trong trường hợp xấu hơn, nếu tình hình kéo dài, nhiều doanh nghiệp cho rằng “có tiền cũng không mua được nguyên liệu”.
“Ở khía cạnh thị trường, khu vực Trung Đông dù không phải đích đến xuất khẩu lớn nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong trung chuyển hàng hóa. Hiện nay, khu vực này gần như “đóng băng”, khiến nhiều đơn hàng sang các quốc gia như Qatar, Dubai không thể triển khai. Điều này kéo theo sự gián đoạn trong việc vận chuyển hàng hóa đến các thị trường khác, đặc biệt là châu Phi”, bà Phan Thanh Xuân cho biết.
Trong khi đó, các thị trường chủ lực cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Tại Hoa Kỳ - thị trường chiếm khoảng 40% kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam, xu hướng thắt chặt chi tiêu đang quay trở lại trong bối cảnh bất ổn kinh tế toàn cầu, tương tự giai đoạn dịch bệnh COVID-19. Ngoài ra, các yếu tố như biến động tỷ giá USD, rủi ro phòng vệ thương mại và nguy cơ thiếu container cũng đang làm gia tăng áp lực lên doanh nghiệp, đặc biệt trong việc xây dựng kế hoạch sản xuất và xuất khẩu dài hạn. Điều này khiến triển vọng xuất khẩu của ngành dệt may trở nên khó đoán định hơn, dù đã đạt kim ngạch xuất khẩu hơn 46 tỷ USD trong năm 2025 và đặt mục tiêu 48 - 49 tỷ USD trong năm nay.
Công nhân Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất bao bì Trường Thịnh (Ninh Bình) điều hành máy móc trong quá trình sản xuất. Ảnh: Đức Phương/TTXVN
Tương tự với ngành nhựa, ông Trần Việt Anh, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Nam Thái Sơn, cho rằng tác động lớn nhất từ các xung đột địa chính trị hiện nay không chỉ nằm ở giá cả mà là khả năng tiếp cận nguồn nguyên liệu, yếu tố mang tính sống còn đối với doanh nghiệp sản xuất.
Theo ông Trần Việt Anh, đây là tình huống mà cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam gần như chưa từng đối mặt trong nhiều thập kỷ qua. Dẫn chứng trường hợp của Tập đoàn hóa dầu SABIC - một trong những nhà cung cấp nguyên liệu lớn cho Việt Nam. Lần đầu tiên sau hơn 30 năm, doanh nghiệp này thông báo cắt giảm đơn hàng nguyên liệu do ảnh hưởng của xung đột ở Trung Đông.
Không chỉ giảm nguồn cung, nhiều nhà cung cấp còn điều chỉnh tăng giá mạnh. Thực tế, giá nguyên liệu cho nhiều ngành hàng, trong đó có nhựa đã tăng khoảng 30 - 40% chỉ trong thời gian ngắn, tạo áp lực lớn lên chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Đáng lo ngại hơn, nhiều doanh nghiệp hiện không thể ký tiếp các hợp đồng nhập nguyên liệu mới. Với mức dự trữ thông thường chỉ khoảng 2 - 3 tháng, nguy cơ thiếu hụt nguyên liệu trong thời gian tới là rất rõ ràng. “Tình trạng này đang buộc một số doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô sản xuất, thậm chí giảm công suất và lao động. Nếu nguyên liệu không đủ, doanh nghiệp không thể duy trì sản xuất như kế hoạch, kéo theo những hệ lụy về việc làm và vận hành chuỗi cung ứng”, ông Trần Việt Anh cho biết.
Giữa bối cảnh cuộc xung đột ở Trung Đông có nguy cơ kéo dài, đại diện Hiệp hội Dệt may Việt Nam khuyến nghị doanh nghiệp cần chủ động điều chỉnh phương thức giao hàng, chuyển từ CIF (Cost, Insurance and Freight) sang FOB (Free on Board) để giảm thiểu rủi ro, đồng thời đa dạng hóa phương thức vận tải thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào đường biển. Một số tuyến vận tải thay thế như đường sắt Á - Âu được xem là lựa chọn tiềm năng, dù chi phí cao hơn.
Trong lúc áp lực thiếu hụt nguyên liệu ngày càng gia tăng, bà Phan Thanh Xuân chỉ ra “điểm nghẽn” lớn hiện nay nằm ở chính sách quản lý nhập khẩu. Cụ thể, các nguyên liệu tái chế dù được sử dụng làm đầu vào sản xuất theo mô hình kinh tế tuần hoàn vẫn bị phân loại là “phế liệu” và bị hạn chế nhập khẩu. Quy định này khiến doanh nghiệp không thể tiếp cận nguồn nguyên liệu phù hợp, trong khi các đơn hàng từ các thương hiệu lớn ngày càng yêu cầu sử dụng vật liệu tái chế. Thực tế, đã có những đơn hàng trị giá hàng chục triệu USD có nguy cơ dịch chuyển sang các quốc gia có chính sách cởi mở hơn. Không chỉ mất đơn hàng, Việt Nam còn có nguy cơ bỏ lỡ làn sóng đầu tư từ các tập đoàn quốc tế đang tìm kiếm địa điểm xây dựng nhà máy tái chế.
Sản xuất giày xuất khẩu sang tại Công ty TNHH Hóa dệt Hà Tây. Ảnh: Trần Việt/TTXVN
Hiệp hội Da giày - Túi xách Việt Nam kiến nghị cơ quan chức năng sớm tháo gỡ các rào cản chính sách, đặc biệt là làm rõ khái niệm và cơ chế kiểm soát đối với nguyên liệu tái chế, vừa đảm bảo yêu cầu quản lý nhà nước về môi trường vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Trong khi đó, ông Trần Việt Anh cho rằng, cơ quan quản lý cần nhìn nhận lại vấn đề dự trữ nguyên liệu ở cấp độ quốc gia và từng ngành. Hiện Việt Nam chưa có cơ chế rõ ràng về dự trữ chiến lược cho các ngành công nghiệp, đặc biệt là các ngành phụ thuộc lớn vào nguyên liệu hóa dầu. Mỗi ngành cần được đánh giá cụ thể để xác định mức dự trữ phù hợp thay vì để doanh nghiệp tự xoay xở với nguồn dự trữ ngắn hạn. Điều này càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh nhiều ngành công nghiệp hỗ trợ đang tăng trưởng nhanh, với tốc độ khoảng 20% mỗi năm, kéo theo nhu cầu nguyên liệu ngày càng lớn.
Các hiệp hội ngành hàng đề xuất thiết lập cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với các cú sốc từ bên ngoài, trong đó có việc xây dựng kênh liên lạc thường xuyên giữa Bộ Công Thương và các hiệp hội để cập nhật kịp thời thông tin thị trường, chính sách và rủi ro. Trong bối cảnh chi phí leo thang, đơn hàng bấp bênh và cạnh tranh ngày càng khốc liệt, khả năng thích ứng nhanh doanh nghiệp lẫn chính sách điều hành sẽ là yếu tố quyết định để duy trì đà tăng trưởng và giữ vững vị thế của các ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Xuân Anh (TTXVN)