Giáp Tết, ký ức tát cá ao làng thời bao cấp

Giáp Tết, ký ức tát cá ao làng thời bao cấp
3 giờ trướcBài gốc
Trong thời bao cấp, đời sống vật chất thiếu thốn buộc con người phải cần kiệm, chắt chiu, nhưng cũng chính trong gian khó ấy, tình làng nghĩa xóm và niềm vui mộc mạc trong không gian văn hóa làng - như những buổi tát ao bắt cá tháng ngày giáp Tết - đã trở thành ký ức không thể phai mờ.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đăng Sinh - nguyên Chủ nhiệm khoa Triết học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Ao làng - một thiết chế sinh thái
Tây Mỗ xưa thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông, thuộc ngoại vi kinh thành Thăng Long. Làng Tây Mỗ có mật độ sông hồ, ao đầm dày đặc. Ao làng không chỉ là mặt nước tự nhiên mà còn là dấu tích của những dòng sông cổ, được người dân đắp bờ, nối liền bằng cống, tạo thành hệ thống trữ nước và cũng là hệ thống thoát nước mùa mưa lũ.
Trong cấu trúc làng xã truyền thống, ao làng giữ nhiều chức năng: tắm giặt, điều hòa thủy văn, cung cấp nước tưới, bèo, thả cá…
Ao làng còn là không gian sinh hoạt cộng đồng. Từ những năm 1960, khi mô hình hợp tác xã nông nghiệp được triển khai rộng khắp, ao làng thuộc quyền sở hữu chung của hợp tác xã. Hợp tác xã căn cứ vào diện tích mặt nước để giao cho các hộ xã viên quản lý, chủ yếu nhằm thả bèo làm thức ăn cho lợn. Vì thế, có những ao thuộc "quyền sử dụng" của nhiều hộ trong cùng một đội sản xuất.
Ao được các hộ không chỉ để thả bèo, mà còn để nuôi cá - nguồn thực phẩm quý giá trong điều kiện đời sống vật chất còn nhiều thiếu thốn.
Nuôi cá - tích cóp thực phẩm cho Tết
Để có cái Tết đầm ấm, các hộ xã viên ý thức được việc thả cá từ tháng 3, tháng 4. Đến tháng 11, tháng 12, khi mùa đông hanh khô, mực nước ao hạ thấp, cũng là lúc thu hoạch cá. Chu kỳ ấy lặp lại đều đặn hằng năm, trở thành một phần nhịp sống ở lãng xã.
Những loại cá nuôi phổ biến là cá chép, cá trôi, cá mè. Ngoài cá giống mua từ sông Hồng về thả, trong ao còn có nhiều cá tự nhiên sinh sôi theo con nước như cá trê, cá rô, cá quả. Sau khi tát ao, người ta thường tận dụng bùn ao để đắp đắp bụi tre, cấy rau cần. Đến năm sau, lại đi mua cá con về thả, bắt đầu một vòng quay mới của nhịp sống thôn dã.
Nuôi cá thời bao cấp không phải để làm giàu mà chỉ là cách bổ sung nguồn dinh dưỡng cho bữa ăn gia đình trong những ngày Tết. Những hộ nghèo, khi tát ao, cá to thường phải mang đi bán để có tiền đóng học cho con, hoặc lấy tiền mua sắm những vật dụng tối thiểu. Những con cá nhỏ hơn được giữ lại cho nồi cá Tết.
Tát ao - "một kỷ niệm khó quên" dịp cuối năm
Tháng Chạp về cũng là tháng tát ao. Ở xóm Phượng, làng Tây Mỗ, có dãy ao Chùa, ao Gốc Gạo, ao Bến nối liền nhau.
Ngày ấy, chưa có điện, chưa có máy bơm nên việc tát ao hoàn toàn bằng sức người, chủ yếu dùng gàu dây, có hai tai buộc dây, gàu sòng đan bằng tre, khít nước, có cán tre để đẩy (tát) nước. Những ao sâu, bờ cao phải bắc cầu đà - chỉ vài tấm ván ghép tạm để dùng gàu dây, đứng tát nước.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đăng Sinh - nguyên Chủ nhiệm khoa Triết học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tiếp câu chuyện kể. Ông vẫn nhớ hình ảnh các cụ cao niên trong làng như cụ Tư Lộc, cụ Sáu Thịnh, cụ Ba Bi, cụ Tư Sách… đứng trên cầu đà, bốn người chia thành hai cặp, hai gàu tát song song, nhịp nhàng, dẻo dai tát nước từ ao Gốc Gạo đổ sang ao Bến.
Các cụ vừa tát vừa chuyện trò, tiếng cười nói xen lẫn tiếng nước đổ, dường như không ai thấy mệt nhọc. Có những ao sâu, nước nhiều, phải tát hai, ba ngày mới cạn. Khi nước rút dần, cá các loại bắt đầu vẫy vùng trong rốn ao. Đó là lúc cả làng kéo đến xem bắt cá. Nhiều người, trong đó có trẻ con sẵn sàng hôi cá.
Hôi cá - niềm vui của trẻ con
Người xem tát ao đông, người "hôi cá" cũng đông không kém. Khi chủ ao ra hiệu "tháo khoán", người lớn, trẻ con, ào xuống bùn ao. Ông Sinh nhớ lại: khi đó, tôi mới 6-7 tuổi, lưng đeo giỏ cùng các bạn trong xóm đi hôi cá. Kết quả nhiều khi chỉ là vài con cá rô, mấy con suýt cờ, vài con tôm càng nhỏ xíu, nhưng vẫn vui. Niềm vui không chỉ ở số cá, tôn, cua, ốc hôi được, mà ở cảm giác "như được mùa" mặc dù quần áo đầy bùn đất.
Trong làng có những người "hôi cá có thương hiệu", như anh em nhà ông Húng ở xóm Dưới. Lần nào họ cũng bắt được nhiều cá, lại toàn cá "ràm" như chuối, trê, rô. Người làng bảo thế là "sát cá", còn lũ trẻ chúng tôi thì chỉ biết kính nể, ngưỡng mộ.
Cá kho - hương vị của no ấm
Tát ao lấy cá ăn Tết là hoạt động thường niên của làng quê một thời. Trong bối cảnh "cơm không đủ no, áo không đủ ấm", thịt cá là thứ xa xỉ. Nuôi lợn để bán nghĩa vụ cho Nhà nước, người chăn nuôi chỉ được ít tem phiếu thịt, để mua thịt ở cửa hàng thịt do nhà nước quản lý.
Mùa đông rét mướt, áo quần chỉ là áo cánh, áo sợi mỏng. Đói và rét là chuyện thường ngày. Bởi vậy, Tết có thịt, cá là biểu hiện của sự no ấm, của hạnh phúc giản dị.
Trên mâm cỗ Tết, ngoài bát thịt đông, đĩa giò xào, nếu có thêm nồi cá kho riềng thì "không còn gì bằng". Cá kho ăn dè, ăn dần, kéo dài mấy ngày Tết. Đối với hộ nghèo, chăn nuôi được ít, do vậy tem phiếu thịt ít, cá kho vì thế thay chức năng cho thịt. Được ăn bánh chưng với miếng cá kho giềng thơm nức cũng là hạnh phúc đủ đầy.
"No ba ngày Tết, ấm ba tháng hè", "Mùng Ba ăn rốn, mồng Bốn ngồi không"- câu nói của người xưa phản ánh đúng thực tế cái Tết của người nghèo. Những niềm vui ngày Tết qua nhanh, người lớn, trẻ con ở làng quê lại tiếp tục một chu kỳ mới, hy vọng mới theo lịch canh tác của cư dân nông nghiệp làng xã.
Ngày nay, ao làng Tây Mỗ đã biến dạng. Nhiều ao bị lấp, bị chia cắt, không còn chức năng thả bèo, nuôi cá. Không còn tát ao cuối năm nữa. Hình ảnh các cụ già đứng trên cầu đà, trẻ con lội bùn hôi cá, cả làng quây quần quanh xem tát ao, bắt cá… chỉ còn trong ký ức của những người đã đi qua thời bao cấp.
Nhưng chính những ký ức ấy, là một phần của cuộc sống đói nghèo, lại là một phần không thể thiếu của văn hóa làng quê Việt Nam. Đó là ký ức về sự chịu đựng, lao động cần mẫn, về cách con người nương tựa vào thiên nhiên và vào nhau để tồn tại. Và trong ký ức ấy, tiếng gàu tát ao, cảnh bắt cá, hôi hôi những tháng ngày giáp Tết vẫn còn nguyên vẹn, nhịp nhàng, bền bỉ, như nhịp chảy của thời gian không thể nào quên.
Ngô Hiển
Nguồn Công dân & Khuyến học : https://congdankhuyenhoc.vn/giap-tet-ky-uc-tat-ca-ao-lang-thoi-bao-cap-179260129123510169.htm