Tính đến đầu giờ chiều ngày 13-4, đã có hơn 20 ngân hàng thông báo giảm lãi suất tiết kiệm, trong đó có cả ngân hàng giảm lãi suất cho vay.
Lãi suất huy động trên 7% dần biến mất
Cụ thể, ở nhóm big 4, cả 4 ngân hàng thương mại nhà nước đồng loạt điều chỉnh giảm 0,5%/năm, trong đó Vietcombank giảm 0,5%/năm lãi suất kỳ hạn 24 tháng xuống còn 6%/năm; 3 ông lớn còn lại giảm 0,5%/năm lãi suất huy động từ 24 tháng trở lên.
Tại MB, lãi suất tiết kiệm hôm nay giảm ở hàng loạt kỳ hạn. Cụ thể, lãi suất kỳ hạn 6-18 tháng giảm 0,1%/năm; kỳ hạn 24 tháng giảm 0,3%/năm; các kỳ hạn dài 36-60 tháng giảm 0,5%/năm.
Techcombank giảm 0,1%/năm đối với các kỳ hạn ngắn 3–5 tháng và giảm tới 0,5%/năm ở các kỳ hạn từ 6–36 tháng.
Sacombank giảm 0,3%/năm tại kỳ hạn 6–11 tháng và giảm 0,5%/năm ở các kỳ hạn 12–18 tháng. Eximbank giảm 0,5% đối với các kỳ hạn 18-36 tháng.
SHB giảm 0,2-0,3% đối với các kỳ hạn 6-12 tháng và giảm 0,4% đối với các kỳ hạn 15-36 tháng.
ABBank giảm 0,5% đối với các kỳ hạn dài 15-60 tháng. KienlongBank giảm 0,2% trên toàn bộ kỳ hạn 1-60 tháng. Viet A Bank giảm tới 0,5%/năm ở một số kỳ hạn.
Dù tham gia xu hướng giảm lãi suất, NCB chỉ điều chỉnh ở mức rất nhẹ, khoảng 0,1%/năm cho các kỳ hạn 6-60 tháng, thấp nhất thị trường hiện nay.
LPBank ghi nhận mức giảm mạnh nhất thị trường, lên tới 1%/năm nhưng chỉ áp dụng với các kỳ hạn 36-60 tháng, đây là kỳ hạn thường ít khách hàng chọn lựa để gửi tiền.
Lãi suất huy động giảm, tạo dư địa để các ngân hàng xem xét giảm lãi suất cho vay trong thời gian tới. Ảnh: T.L
Tại TPBank, mức lãi suất được điều chỉnh giảm từ 0,5% đến 1%/năm đối với các kỳ hạn trên 6 tháng. Đối với các kỳ hạn ngắn, dù mặt bằng lãi suất hiện đã ở mức thấp (trần 4,75%/năm), TPBank vẫn tiếp tục giảm thêm 0,2%/năm. Ngân hàng này cam kết sẽ sớm điều chỉnh giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ khách hàng. Ngân hàng dự kiến triển khai các gói tín dụng ưu đãi với mức lãi suất cho vay được điều chỉnh giảm, áp dụng linh hoạt theo từng phân khúc khách hàng trong thời gian tới.
Nam A Bank điều chỉnh giảm lãi suất tiết kiệm lên đến 0,5%/năm đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Đáng chú ý, ngân hàng này đã điều chỉnh giảm tới 3%/năm lãi suất cho vay đối với khách hàng cá nhân so với mức trước đó, áp dụng từ ngày 11-4. Bên cạnh đó, doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) tiếp tục được ưu đãi khi lãi suất cho vay giảm thêm 1-1,5%/năm trên nền lãi suất đã điều chỉnh, đưa mức lãi suất xuống từ 9%/năm đối với VND và 4,5%/năm đối với USD…
Sau điều chỉnh, mặt bằng lãi suất huy động mới nhanh chóng được thiết lập. Theo đó, kỳ hạn 6-9 tháng, lãi suất tiết kiệm dao động trong biên độ từ 5,1-7,2%/năm; trong khi mức trên 7%/năm hiện chỉ còn xuất hiện ở một số ngân hàng và chỉ áp dụng với các kỳ hạn dài.
Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến lãi suất trên thị trường, yêu cầu các ngân hàng minh bạch việc công bố lãi suất trên website, đồng thời sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản khi cần thiết. Đồng thời, cơ quan quản lý cũng tăng cường thanh tra, giám sát và xử lý nghiêm các vi phạm trong hoạt động huy động vốn, cấp tín dụng.
Trong thời gian tới, mức lãi suất huy động được dự báo sẽ bình ổn trở lại quanh mốc 7%/năm. Ảnh: T.L
Thách thức điều hành tỉ giá và kỳ vọng ổn định mặt bằng lãi suất
Phân tích về bài toán tỉ giá và lãi suất, ông Nguyễn Hưng - Tổng Giám đốc TPBank nhấn mạnh đây luôn là 2 mặt của đồng tiền và mọi sự can thiệp vào mặt này đều sẽ tác động trực tiếp đến mặt kia.
Việc điều hành của NHNN hiện nay đòi hỏi sự cân nhắc cẩn trọng, đặc biệt trong bối cảnh cấu trúc nguồn vốn của nền kinh tế đang có sự mất cân đối lớn.
Hiện tại, do thị trường vốn chưa phát triển đủ sâu, các doanh nghiệp đang phụ thuộc nhiều vào nguồn tín dụng ngân hàng, kể cả đối với những dự án đầu tư trung và dài hạn.
Ngược lại, người dân lại rất ít có thói quen gửi tiền ở các kỳ hạn dài trên 12 tháng. Để kiểm soát rủi ro hệ thống, NHNN đã siết chặt tỉ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay dài hạn xuống mức tối đa 25%, vô hình trung làm thu hẹp đáng kể dư địa của chính sách tiền tệ.
Tổng Giám đốc TPBank cũng chỉ ra, thời gian qua, cơ quan điều hành đã phải chịu sức ép trong việc cân bằng giữa mục tiêu bơm vốn để hỗ trợ doanh nghiệp và việc kiên định giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Có những thời điểm thanh khoản hệ thống dồi dào đẩy lãi suất tiền VND xuống thấp, gần như ngang bằng với lãi suất USD.
Tình trạng này tạo ra sự dịch chuyển dòng tiền theo cơ chế thị trường khi các ngân hàng và tổ chức có xu hướng mang ngoại tệ gửi ở nước ngoài để hưởng mức chênh lệch lãi suất qua đêm cao hơn, từ đó tạo ra áp lực mất giá cực lớn lên tiền VND.
Dù vậy, ông Hưng đánh giá cao điều hành của NHNN khi nỗ lực giữ cho mức suy giảm của tiền VND ở ngưỡng có thể chấp nhận được, nhất là khi so sánh với đà mất giá mạnh của nhiều đồng tiền khác trong khu vực.
Trong thời gian qua, có giai đoạn lãi suất liên ngân hàng ở thị trường 2 giảm xuống thấp hơn cả mức lãi suất huy động từ dân cư ở thị trường 1. Điều này là bất thường và đã khiến nhiều ngân hàng thương mại lạm dụng nguồn vốn rẻ này để cho vay, dẫn đến việc phải đối mặt với rủi ro thanh khoản ngay khi thị trường có biến động và lãi suất liên ngân hàng bất ngờ tăng vọt. Ông Hưng nhận định dù thị trường 2 có nhiều biến động lãi suất huy động ở thị trường 1 vẫn duy trì ổn định.
“Trong thời gian tới, mức lãi suất huy động được dự báo sẽ bình ổn trở lại quanh mốc 7%/năm, tạo cơ sở hợp lý để các ngân hàng có thể hạ mặt bằng lãi suất cho vay đầu ra. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cũng đã phát đi thông điệp sẽ tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất cơ bản và không bơm thêm tiền ra trên thị trường mở, từ đó tạo kỳ vọng mặt bằng lãi suất sẽ bớt biến động và từng bước ổn định, hạ nhiệt bền vững hơn.
Ông Nguyễn Hưng - Tổng Giám đốc TPBank
Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng trường Đại học Nguyễn Trãi (NTU) cho biết thêm, trong bối cảnh hiện nay, gia tăng tỉ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) trở thành ưu tiên hàng đầu.
Thay vì cạnh tranh bằng lãi suất huy động cao, các ngân hàng chuyển sang cạnh tranh bằng trải nghiệm, thông qua ngân hàng số, hệ sinh thái thanh toán và tiện ích dịch vụ.
Khi dòng tiền được giữ lại trong hệ thống với chi phí thấp, áp lực đầu vào sẽ được giải tỏa một cách tự nhiên.
Song song với đó, việc tiếp cận nguồn vốn quốc tế, đặc biệt là các dòng vốn xanh, vốn phát triển bền vững sẽ mở ra một hướng đi mới. Những nguồn vốn này không chỉ có chi phí hợp lý, mà còn mang tính dài hạn, giúp ổn định cấu trúc tài chính.
Ngoài ra trong giai đoạn hiện tại, một số ngân hàng có xu hướng điều chỉnh kỳ vọng lợi nhuận, chấp nhận biên lãi ròng thấp hơn để mở rộng tín dụng và duy trì quan hệ khách hàng. Đây không phải là sự hy sinh đơn thuần, mà là sự chuyển dịch từ tư duy ngắn hạn sang chiến lược dài hạn, nơi giá trị được tích lũy thông qua quy mô và chất lượng tín dụng.
Đồng quan điểm, ông Hưng cũng thừa nhận việc điều chỉnh giảm lãi suất sẽ có tác động nhất định đến biên lãi ròng (NIM) của TPBank trong ngắn hạn. Tuy nhiên, ngân hàng đã có sự chuẩn bị chủ động thông qua các giải pháp như đẩy mạnh số hóa để tối ưu chi phí vận hành, đồng thời cải thiện cấu trúc nguồn vốn nhằm giảm chi phí đầu vào.
Ở góc độ dài hạn, TPBank đánh giá việc giảm lãi suất cho vay là cần thiết trong bối cảnh hiện nay để hỗ trợ khách hàng, qua đó góp phần kiểm soát và hạn chế rủi ro nợ xấu, yếu tố có thể ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận nếu gia tăng.
TOÀN CẢNH LÀN SÓNG HẠ LÃI SUẤT 13-4
Nhóm Big 4 (Vietcombank, BIDV, VietinBank, Agribank):Đồng loạt giảm 0,5%/năm cho các kỳ hạn từ 24 tháng trở lên.
Mức giảm mạnh nhất: LPBank (giảm tới 1%/năm cho kỳ hạn 36-60 tháng); TPBank (giảm 0,5% - 1%/năm đối với kỳ hạn trên 6 tháng).
Định hình mặt bằng mới: Kỳ hạn 6-9 tháng phổ biến ở mức 5,1 - 7,2%/năm. Lãi suất huy động trên 7%/năm dần biến mất, chỉ còn lác đác ở một số kỳ hạn dài.
THÙY LINH