Sâm Lai Châu được kỳ vọng trở thành sản phẩm chiến lược
Sâm Lai Châu trên hành trình trở thành ngành hàng chiến lược
Theo ông Nguyễn Văn Diện, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Lai Châu sở hữu khí hậu đặc trưng vùng núi cao Tây Bắc với biên độ nhiệt ngày - đêm lớn, ít chịu ảnh hưởng của bão. Đây là điều kiện lý tưởng để phát triển cây ăn quả, rau hoa và đặc biệt là các loài dược liệu quý.
Hiện nay, toàn tỉnh có khoảng 23.070 ha dược liệu, quy tụ nhiều loài cây có giá trị kinh tế cao như sâm Lai Châu, bảy lá một hoa, đảng sâm, đương quy, quế, thảo quả, sa nhân… Trong số đó, sâm Lai Châu được xem là dược liệu quý hiếm, sở hữu tiềm năng lớn để phát triển thành ngành hàng chiến lược của địa phương.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy quy mô sản xuất vẫn còn khiêm tốn, diện tích trồng phân tán, sản lượng chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng gia tăng của thị trường. Những hạn chế này đang trở thành “điểm nghẽn” trong quá trình phát triển chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm dược liệu chủ lực của tỉnh.
Dù vậy, những tín hiệu tích cực đã bắt đầu xuất hiện. Một số doanh nghiệp và hợp tác xã đã tham gia đầu tư phát triển vùng trồng, đồng thời hình thành liên kết với người dân trong trồng, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Đây được xem là nền tảng quan trọng để xây dựng chuỗi giá trị dược liệu bền vững.
Một lợi thế nổi bật khác của Lai Châu là tỷ lệ rừng tự nhiên chiếm tới 95,5% diện tích rừng, tạo ra hệ sinh thái đa dạng với nhiều tiểu vùng khí hậu phù hợp cho các loài dược liệu quý. Cùng với đó, tri thức bản địa của đồng bào dân tộc và tiềm năng phát triển du lịch sinh thái cũng mở ra cơ hội gia tăng giá trị cho sản phẩm dược liệu.
Ông Nguyễn Văn Diện nhận định, nếu được tổ chức bài bản, Lai Châu hoàn toàn có thể xây dựng một ngành hàng dược liệu mạnh, trong đó sâm Lai Châu đóng vai trò trung tâm, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương theo hướng bền vững.
Từ giá trị khoa học đến thị trường tỷ USD
Ở góc độ khoa học, sâm Lai Châu đang dần khẳng định vị thế nhờ các chỉ số hoạt chất ấn tượng. Theo TS. Phạm Quang Tuyến, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, loài sâm này có hàm lượng saponin cao, đặc biệt ở nhóm cây 5-7 năm tuổi, đạt từ 17,68% đến 19,71%, vượt trội so với nhiều loài dược liệu khác như tam thất hoang hay sâm vũ diệp.
Đáng chú ý, nhiều mẫu sâm Lai Châu có chỉ số MR2 ở mức triển vọng, tạo nền tảng cho việc phát triển các sản phẩm chăm sóc sức khỏe có giá trị cao. Không chỉ có giá trị khoa học, sâm Lai Châu còn gắn bó lâu đời với tri thức bản địa của các dân tộc Hà Nhì, Dao, H’Mông… với nhiều công dụng như hồi phục sức khỏe, trị cảm lạnh, hỗ trợ sau sinh.
Trong những năm gần đây, sâm Lai Châu ngày càng được quan tâm trong các chương trình phát triển của Trung ương và địa phương. Sản phẩm đã được công nhận nhãn hiệu chứng nhận, được cấp bằng bảo hộ giống cây trồng, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế với các đối tác như Hàn Quốc và Nhật Bản.
Về thị trường, sâm Lai Châu đang chứng kiến tốc độ tăng trưởng đáng kể từ năm 2020 đến nay. Nhiều sản phẩm chế biến sâu đã được đưa ra thị trường như hồng sâm, trà sâm, nước uống bổ dưỡng, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm… Theo TS. Phạm Quang Tuyến, định hướng phát triển cần chuyển từ “bán nguyên liệu” sang “bán giá trị”, tức xây dựng hệ sinh thái sản phẩm đa dạng, có thương hiệu rõ ràng.
Dư địa thị trường là rất lớn. Hiện nhu cầu nguyên liệu y học trong nước mới chỉ đáp ứng khoảng 25%, tương đương quy mô khoảng 400 triệu USD mỗi năm. Trên phạm vi toàn cầu, thị trường dược liệu và sản phẩm từ sâm đạt 230 tỷ USD vào năm 2021 và dự báo sẽ tăng lên 430 tỷ USD vào năm 2028. Đây là cơ hội lớn để sâm Lai Châu tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Đặc biệt, mô hình trồng sâm dưới tán rừng không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn góp phần bảo vệ tài nguyên rừng. Đây được xem là giải pháp “giữ rừng bằng kinh tế”, tạo sinh kế tại chỗ cho người dân và hạn chế tình trạng di cư lao động.
Tuy nhiên, để phát triển bền vững, bài toán tiêu chuẩn hóa và kiểm soát chất lượng đang đặt ra cấp thiết. Theo PGS.TS Đỗ Thị Hà, Phó Viện trưởng Viện Dược liệu (Bộ Y tế), hiện sâm Lai Châu vẫn đang được đánh giá dựa trên chuyên luận “Sâm Việt Nam” trong Dược điển Việt Nam V – vốn chủ yếu xây dựng trên cơ sở nghiên cứu sâm Ngọc Linh.
Thực tế cho thấy nhiều chỉ tiêu hoạt chất giữa hai loại sâm có sự khác biệt đáng kể. Kết quả phân tích 105 mẫu sâm Lai Châu 5 năm tuổi bằng phương pháp HPLC-DAD cho thấy hàm lượng majonosid R2 (MR2) dao động từ 0,48% đến 7,23%, trong đó có tới 74 mẫu đạt trên 3%. Hàm lượng ginsenosid Rg1 đạt từ 0,52% đến 6,22%, với 100/105 mẫu đạt ngưỡng từ 1,5% trở lên.
Trong khi đó, hàm lượng Rb1 dao động từ 0 đến 1,92%, có 90/105 mẫu đạt từ 0,5%. Riêng hoạt chất Rd khá thấp, chỉ 13/105 mẫu có hàm lượng trên 0,5%. Với 28 mẫu lưu hành trên thị trường đã được kiểm định DNA, hàm lượng MR2 đạt từ 0,93% đến 8,91%, thậm chí có mẫu vượt sâm Ngọc Linh.
Các chỉ tiêu về độ ẩm, tro toàn phần, tỷ lệ vụn nát và tạp chất cơ bản đáp ứng tiêu chuẩn hiện hành. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, dữ liệu định tính và định lượng cần tiếp tục được mở rộng trên quy mô lớn hơn, đặc biệt tại các vùng trồng tập trung.
Từ thực tế này, PGS.TS. Đỗ Thị Hà kiến nghị cần sớm xây dựng bộ tiêu chuẩn chất lượng riêng cho sâm Lai Châu. Đây không chỉ là cơ sở để kiểm soát thị trường, hạn chế gian lận thương mại mà còn là nền tảng pháp lý quan trọng để nâng tầm giá trị sản phẩm.
Ở góc độ quản lý, ông Nguyễn Văn Diện cho rằng, để phát triển mạnh ngành hàng sâm Lai Châu, địa phương cần quy hoạch vùng trồng tập trung, bảo tồn nguồn gen quý, đồng thời mở rộng diện tích trồng trên đất nông nghiệp phù hợp nhằm tăng sản lượng và chủ động nguồn nguyên liệu.
Song song đó, cần đẩy mạnh chế biến sâu, phát triển đa dạng sản phẩm từ dược liệu như thuốc, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm; xây dựng thương hiệu gắn với bản sắc địa phương; đồng thời kết hợp phát triển du lịch trải nghiệm gắn với sâm và dược liệu.
Hải Yến