Tổng Bí thư Hà Huy Tập sinh ngày 24/4/1906 tại làng Kim Nặc (nay thuộc xã Cẩm Hưng, tỉnh Hà Tĩnh) - vùng quê nổi tiếng với truyền thống hiếu học, cần cù và giàu lòng yêu nước. Trải qua nhiều thế hệ, mảnh đất này đã sản sinh nhiều bậc khoa bảng, trí thức, góp phần làm rạng danh quê hương. Không chỉ vậy, đây còn là cái nôi của nhiều phong trào yêu nước, là nơi hun đúc nên lớp lớp con người kiên trung trong các cuộc đấu tranh chống thực dân, phong kiến.
Xã Cẩm Hưng - quê hương Tổng Bí thư Hà Huy Tập. Ảnh: Hương Thành.
Trong dòng chảy truyền thống ấy, Tổng Bí thư Hà Huy Tập sớm tiếp thu những giá trị tốt đẹp của quê hương. Tinh thần hiếu học, ý chí vượt khó, lòng yêu nước và khát vọng độc lập đã trở thành hành trang quan trọng, thôi thúc ông dấn thân vào con đường cách mạng.
Dòng họ Hà Huy là nguồn cội quan trọng góp phần hình thành nhân cách của Tổng Bí thư.
Bên cạnh quê hương, dòng họ Hà Huy cũng là một nguồn cội quan trọng góp phần hình thành nhân cách của Tổng Bí thư. Theo gia phả, dòng họ Hà là một trong những dòng họ lớn, có mặt rất sớm ở Hà Tĩnh (1415), phát tích từ xã Lạc Dung, huyện Kỳ Hoa (cũ). Đến thời nhà Lê, con cháu họ Hà di cư đến xã Tùng Lộc sinh sống nhiều đời ở đây.
Sau đó, đến đầu thế kỷ thứ XVII, do biến cố lịch sử (dưới thời vua Lê - chúa Trịnh), một số con cháu họ Hà phải di dời phân tán đi khắp nơi, trong đó có một người con vào làng Kim Nặc - tổng Thổ Ngọa, nay là xã Cẩm Hưng (nhánh Hà Tôn Nhân). Một người về Yên Định (Thanh Hóa), một người về xã Tiên Điền, Hà Tĩnh (nhánh Hà Tôn Danh).
Theo sử sách ghi lại, họ Hà ở Cẩm Hưng từ thời phong kiến, có nhiều người học giỏi, thi đỗ đạt cao. Dưới thời vua Trần Dụ Tông có Thủy tổ họ Hà là Thượng tướng quân Hà Công Mại hay còn gọi là Hà Mại (1334-1410) là một người văn võ song toàn. Ông từng chỉ huy đội quân bảo vệ vua đi kinh lý phía Nam nước Đại Việt, trấn Nghệ An. Năm 1377, ông trấn thủ xứ Nghệ An với hàm Thượng tướng quân, tước Thượng vị hầu. Đại tướng quân Hà Tông Chính (còn gọi là Hà Dư), sinh năm 1366, là con trai của Thượng tướng quân Hà Mại. Năm Bính Tý (1396), do có nhiều thành tích trong chỉ huy chiến đấu và bảo vệ biên giới, ông đã được triều Trần phong Hoàng bảng Đại tướng quân. Mùa đông năm Mậu Tý (1408), Tướng quân Hà Tông Chính cùng con trai thứ hai là Hà Sản tham gia và chỉ huy trận Bô Cô góp công đánh tan 10 vạn quân Minh…
Nhà thờ dòng họ Hà Huy tại xã Cẩm Hưng.
Dưới triều đại vua Lê Thánh Tông có Hà Tông Trình (còn gọi là Hà Công Trình), năm Quang Thuận thứ 7 (1467), đậu Nhị giáp Tiến sỹ, khi mới 37 tuổi. Ông là bậc hiền tài trong thiên hạ, một vị quan thanh liêm hết lòng chăm lo việc dân, việc nước. Ông được thăng Quốc tử giám tế tửu (người đứng đầu trong các cuộc thi tiến sỹ), làm Thái Thượng thư khanh, sau đó được vua Lê sắc phong Thượng thư Bộ Binh kiêm Thượng thư Bộ Hình.
Dưới triều Lê Hy Tông có Hà Tôn Mục, đậu Tiến sỹ khoa Mậu Thìn (1688), có kiến thức uyên thâm, giỏi ngoại giao nên được vua cử đi sứ phương Bắc. Sau này, ông được vua Lê sắc phong “Thượng Thư hầu”.
Đời Lê Cảnh Hưng có Hà Huy Đán (cụ nội của Tổng Bí thư Hà Huy Tập) đỗ tú tài (1719), được vua Lê sắc phong “Tư doãn đồ”. Ông nội của Tổng Bí thư Hà Huy Tập là Hà Huy Phẩm, đậu cử nhân đời nhà Nguyễn, đời vua Tự Đức và làm Đốc học Quảng Bình. Bác ruột của Tổng Bí thư Hà Huy Tập là bác sỹ Hà Huy Sàn làm quản đốc Nhà thương Hà Tĩnh. Người bác thứ 2 là Hà Huy Liêm làm quan đốc học lục tỉnh Nam Kỳ.
Sinh ra và lớn lên trong dòng họ có truyền thống khoa bảng, trong một gia đình nhà nho nghèo, Tổng Bí thư Hà Huy Tập sớm chịu ảnh hưởng sâu sắc tinh thần cách mạng. Thân phụ Tổng Bí thư là cụ Hà Huy Tương, từng đỗ cử nhân nhưng không ra làm quan, mà ở nhà dạy học, bốc thuốc, sống thanh bạch, thương dân. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Lộc, người phụ nữ nông thôn tần tảo, chịu thương chịu khó. Chính nếp sống giản dị, nghĩa tình và nhân hậu của gia đình đã góp phần nuôi dưỡng trong đồng chí Hà Huy Tập ý thức trách nhiệm với xã hội và tình yêu thương con người.
Tuổi thơ của đồng chí Hà Huy Tập gắn liền với cảnh nghèo khó và những bất công của xã hội thực dân, phong kiến. Hình ảnh người dân lam lũ, bị áp bức đã sớm khắc sâu trong tâm trí, hun đúc ở đồng chí Hà Huy Tập tinh thần phản kháng và ý chí đấu tranh. Từ đó, hình thành nên một con người cương trực, thẳng thắn, giàu lòng trắc ẩn và luôn đứng về phía những người yếu thế.
Ngôi nhà tranh của gia đình Tổng Bí thư Hà Huy Tập nằm trong khuôn viên Khu lưu niệm Tổng Bí thư Hà Huy Tập đã được tôn tạo, nâng cấp.
Truyền thống quê hương, dòng họ cùng với sự giáo dục của gia đình đã tạo nên nền tảng vững chắc, đưa đồng chí Hà Huy Tập đến với con đường cách mạng. Sau khi tốt nghiệp Trường Quốc học Huế, đồng chí Hà Huy Tập tham gia dạy học và sớm tiếp xúc với các tư tưởng tiến bộ. Không chỉ tận tụy với nghề giáo, đồng chí Hà Huy Tập còn tích cực tham gia các hoạt động yêu nước, truyền bá tư tưởng tiến bộ trong học sinh và đồng nghiệp.
Cuối năm 1925, đồng chí Hà Huy Tập tham gia Hội Phục Việt - một tổ chức yêu nước có ảnh hưởng rộng ở Trung Kỳ. Từ đây, đồng chí Hà Huy Tập dấn thân sâu hơn vào phong trào cách mạng, từng bước trưởng thành về tư tưởng và tổ chức. Những năm sau đó, đồng chí Hà Huy Tập được cử đi học tập, hoạt động ở nước ngoài, tiếp cận chủ nghĩa Mác - Lê-nin và sớm khẳng định con đường cách mạng vô sản là con đường đúng đắn cho dân tộc Việt Nam.
Với bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy lý luận sắc sảo và năng lực tổ chức thực tiễn, đồng chí Hà Huy Tập nhanh chóng trở thành một trong những cán bộ chủ chốt của Đảng trong những năm đầu đầy khó khăn. Đồng chí Hà Huy Tập tham gia lãnh đạo việc khôi phục hệ thống tổ chức Đảng, trực tiếp chuẩn bị và đóng vai trò quan trọng tại Đại hội lần thứ I của Đảng (năm 1935). Năm 1936, đồng chí là Tổng Bí thư của Đảng khi mới 30 tuổi.
Trên cương vị người đứng đầu của Đảng, Tổng Bí thư Hà Huy Tập đã cùng Ban Chấp hành Trung ương đề ra nhiều chủ trương quan trọng, lãnh đạo phong trào cách mạng phát triển, đặc biệt là phong trào dân chủ giai đoạn 1936-1939. Tổng Bí thư Hà Huy Tập không chỉ là nhà lãnh đạo thực tiễn mà còn là một nhà lý luận xuất sắc, góp phần đặt nền móng cho nhiều quan điểm chiến lược của Đảng trong thời kỳ đầu.
Năm 1938, Tổng Bí thư Hà Huy Tập bị thực dân Pháp bắt và sau đó tiếp tục bị giam cầm, tra tấn. Dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt, Tổng Bí thư Hà Huy Tập vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản. Trước lúc hy sinh (năm 1941), Tổng Bí thư Hà Huy Tập vẫn khảng khái tuyên bố: “Nếu còn sống, tôi vẫn tiếp tục hoạt động”.
Cuộc đời hoạt động cách mạng của Tổng Bí thư Hà Huy Tập tuy ngắn ngủi nhưng những đóng góp của ông là vô cùng to lớn. Tấm gương kiên trung, tinh thần học tập không ngừng và ý chí cống hiến trọn đời cho dân tộc của Tổng Bí thư Hà Huy Tập mãi mãi là nguồn cảm hứng cho mỗi thế hệ, đặc biệt là hậu duệ dòng họ Hà Huy hôm nay và mai sau.
Thế hệ con cháu dòng họ Hà Huy hôm nay luôn nhắc nhở nhau giữ gìn và phát huy truyền thống dòng họ, xứng đáng với các bậc tiền nhân.
Phát huy truyền thống của dòng họ và noi gương Tổng Bí thư Hà Huy Tập, từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, họ Hà ở Cẩm Hưng đã có nhiều vị đỗ đạt, có học hàm, học vị cao, nhiều nhân sỹ, trí thức.
Tiêu biểu như: Hà Huy Lương (đời thứ 13, đảng viên 1930-1931) từng làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị; Nhà cách mạng Hà Huy Giáp (đời thứ 14), nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Giáo dục, Viện trưởng Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh; GS.TS. Thầy thuốc Nhân dân Hà Huy Tiến (đời thứ 15), nguyên Viện trưởng Viện Mắt Trung ương; Chuyên gia cao cấp Bộ Ngoại giao Hà Huy Tâm (đời thứ 15), thành viên tham gia đàm phán và ký Hiệp định Paris năm 1973. Ngoài ra, theo ghi chép, họ Hà nơi đây còn có 11 vị được phong hàm GS, 7 vị có hàm PGS và 22 vị có học vị tiến sỹ, nhiều người giữ những vị trí quan trọng trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, quân đội, các cấp chính quyền.
Ths. Hà Huy Trinh -Hậu duệ đời thứ 3, gọi Tổng Bí thư Hà Huy Tập bằng ông chú