Qua ngàn năm lịch sử
Trong đời sống và văn hóa Việt Nam, ngựa của người Việt đã có từ hàng ngàn năm trước. Ngựa không chỉ là một loài vật gắn liền với đời sống của 54 dân tộc anh em trong suốt quá trình lịch sử hình thành và xây dựng đất nước, mà còn đi vào thơ ca, nhạc họa và nhiều loại hình nghệ thuật khác như điêu khắc, tạc tượng.
Đoàn Cảnh sát cơ động kỵ binh tập luyện và diễu hành trong những sự kiện lớn của đất nước.
Từ thuở lập nước, ngựa đã gắn với đời sống cư dân Việt cổ với câu chuyện ngựa sắt của Đức Thánh Tản Viên dẹp giặc Ân. Ngày nay, người dân khi đi qua xã Phù Linh, Sóc Sơn, nhìn lên pho tượng Thánh Gióng phi ngựa chiến về trời mới được xây dựng trên đỉnh núi cao vút, mới thấy hết được hình ảnh cao quý của con ngựa. Suốt mấy ngàn năm, những giai thoại gắn với ngựa của người Việt đều mang dáng dấp hào hùng. Tục truyền Vua Lý Thái Tổ (1010-1028) xây thành Thăng Long cứ bị lún, đổ. Xây mãi không được, Vua phải sai các quan đến cầu đảo tại đền Long Đỗ.
Lễ vừa xong thì có một con ngựa trắng (Bạch Mã) từ trong đền đi ra, chạy một vòng rồi trở về đền. Vua bèn hạ lệnh xây thành theo dấu chân ngựa chạy. Thành Thăng Long được hoàn thành. Vua phong Bạch Mã là Tối linh Thượng đẳng thần, Thành hoàng của thành Thăng Long. Năm 1422, Vua Lê Lợi thu binh trở về núi Chí Linh, quân sĩ tuyệt lương hơn hai tháng, chỉ đào rễ cây, hái rau và măng để ăn đỡ đói mà thôi. Vua Lê Lợi sai làm thịt bốn thớt voi và cả ngựa của mình cưỡi để nuôi quân sĩ, rồi sau đó làm nên những đại công. Chuyện cũng kể về những sự dũng mãnh của các chiến mã Bình Định Vương Lê Lợi có lẽ người Việt nào cũng biết.
Với dân tộc Việt Nam, hình ảnh những dũng tướng trên lưng ngựa phi nước đại ra sa trường là biểu tượng của sức mạnh, sự thần tốc và lòng kiêu hãnh. Từ cổ chí kim, nhiều võ tướng, danh tướng luôn được tái hiện rất dũng mãnh trong hình ảnh cưỡi ngựa xông pha trận mạc, mà điển hình như hình ảnh Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.
Ở chiến trường, vai trò của ngựa sánh ngang với con người, ngựa được coi là chiến mã và bảo mã là sinh mệnh của võ tướng. Người Việt luôn ý thức được vai trò, sức mạnh của ngựa trong chiến tranh. Các triều đại phong kiến Việt Nam ý thức rõ sức mạnh và tầm quan trọng của ngựa nên đặt ra cơ quan để chăm sóc, nuôi dưỡng và huấn luyện đó là Viện Mã chính.
Ngựa không chỉ xuất hiện với hình ảnh chiến chinh, mà còn đi vào thơ ca, nhạc họa, điêu khắc, tạc tượng với những tác phẩm xuất sắc xuyên qua thời đại. Hình tượng con ngựa được thể hiện sớm nhất trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam là loại tượng tròn ở chùa Phật Tích (Bắc Ninh) được sáng tác vào khoảng giữa thế kỷ 11. Đó là hình tượng ngựa trên đài sen. Nhóm tượng Phật cũng như tượng voi ngựa ở đây được xem là những tác phẩm điêu khắc đá vào loại đẹp nhất nước ta, các bộ phận, các đường nét được thể hiện khá hiện thực, trau chuốt. Trong các lăng mộ vua Lê ở Lam Kinh có khá nhiều tượng ngựa đá.
Đến thế kỷ 17 và nhất là thế kỷ 19 phổ biến loại tượng ngựa mồ, gắn với thức tế, có yên cương đầy đủ. Tượng ngựa điển hình như tại các khu lăng tẩm Huế. Ngựa mồ được thể hiện cặp đôi nghiêm trang đứng chầu vào đường linh đạo. Tương tự, ngựa ở lăng mộ quận công xứ Bắc khá phổ biến ở vùng Bắc Ninh thường làm bằng đá xanh hoặc đá ong, có khi đắp bằng vữa gạch với kích thước khá lớn, bằng hoặc lớn hơn ngựa thật.
Chẳng hạn như tại lăng Dương Hương ở Bắc Giang có một bức tượng đá khá đẹp điêu khắc rõ nét một người tay cầm cương dắt ngựa khá hiện thực. Hay ở lăng Quận công Thường Tín cũng có tượng ngựa đá khá lớn cao tới 2,1m, dài 1,8m. Còn xã Phụng Thượng (Hà Nội) cũng có một tượng ngựa đá đứng trên một bệ hình chữ nhật, 4 chân đứng thẳng, cổ đeo vòng quả nhạc, lưng chạm nổi yên ngựa hình vòng cung, đuôi dài phủ kín hông, cao to bằng ngựa thật.
Đội kỵ binh trong các triều đại phong kiến của nước ta trước đây.
Ngựa ngự trị trong tín ngưỡng dân gian ở những miếu thờ, điện thờ trong nhà, hay gốc đa, gốc me, hốc đá ngoài đường luôn có vài con ngựa đá hoặc ngựa giấy để các ngài dùng làm phương tiện di chuyển. Cùng với đó là nhiều làng nghề truyền thống làm ngựa giấy cũng đã có hàng trăm năm tuổi. Không chỉ tượng, ngựa còn được thể hiện trên các diềm điêu khắc bằng gỗ trong một số đình miếu ở miền Bắc hay miền Trung.
Tại tháp Chàm Khương Mỹ, gần chân tháp trang trí một con ngựa có người cưỡi cùng hai bánh xe được thể hiện khá hiện thực. Người cưỡi ngựa đầu đội mũ, mặc quần áo Chăm khá đẹp. Có thể thấy từ đền miếu, đình làng đến lăng mộ, ngựa là những hình tượng được thể hiện một cách khéo léo thành những tác phẩm tạo hình, tác phẩm điêu khắc phản ánh những mong ước của con người trong cuộc sống thường nhật.
Trong văn học nghệ thuật, ngựa xuất hiện rất nhiều trong ca dao tục ngữ với những câu như “Mã đáo thành công”, “Tái ông thất mã”, “Giữa đường ngã ngựa”, “Quất ngựa truy phong”,... hay trong dân gian, chiếc xe đạp biểu tượng cho sự nhanh chóng, được dân ta gọi là “con ngựa sắt”. Ai vô phúc phải đáo tụng đình (đến tòa án), thì sẽ được biết vành móng ngựa. Trong nhiều tác phẩm như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, các bài thơ nôm của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan đều xuất hiện hình ảnh ngựa. Ngay cả trong âm nhạc dân gian cũng có hình ảnh ngựa như những làn điệu Lý ngựa ô.
Thời hiện đại, qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, hình ảnh từng đoàn ngựa thồ chở lương thực, vũ khí ra chiến trường, làm phương tiện thông tin liên lạc đã cung cấp thông tin kịp cho việc chỉ đạo chiến đấu, đồng thời đảm bảo lương thực, vũ khí, khí tài cho chiến trường, góp phần đem lại chiến thắng vẻ vang và giành độc lập thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ.
Ngựa trong đời sống Việt
Ngựa phân bố rải rác khắp cả nước như ngựa Bắc Hà, ngựa Phú Yên, ngựa Đà Lạt, ngựa cỏ miền Nam chủ yếu sử dụng vào việc thồ, kéo phù hợp với địa hình hiểm trở, thích nghi với khí hậu, chống chịu được bệnh tật, chịu kham khổ. Dẫu không còn được sử dụng nhiều làm phương tiện như những thời đại trước, nhưng hình ảnh con ngựa trong cuộc sống đời thường cũng in đậm nét trong tâm thức người Việt.
Trên các bản làng miền núi, trên các cao nguyên, dưới những vùng gò đồi bán sơn địa... đi các phiên chợ tình, dễ dàng gặp các đôi thanh niên diện những bộ quần áo thổ cẩm nhiều màu sắc cưỡi ngựa vượt đèo, hay những chiếc xe thổ mộ ngựa kéo lọc cọc trên những con đường rải đá chạy quanh xóm làng.
Ngựa Việt Nam hiện đại được nuôi dưỡng và nhân giống tại nhiều nơi để phục vụ nhiều nhu cầu khác nhau. Như trại ngựa Suối Dầu ở Khánh Hòa được nuôi để phục vụ y học. Tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền núi ở Thái Nguyên, chỉ tính những năm gần đây đã có trên 20.000 con ngựa lai từ trung tâm được chuyển giao cho nông dân các tỉnh Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang…
Hiện, đàn ngựa giống của Trung tâm có khoảng 80 con các loại. Cùng với đó, nhịp vó ngựa trên đồng cỏ Bình Sơn (Thái Nguyên) trải dài là nơi các cán bộ, chiến sĩ Đoàn Cảnh sát cơ động kỵ binh, một đơn vị đặc biệt của Bộ Công an, thực hiện nhiệm vụ huấn luyện đàn kỵ mã với nhiều bài tập đặc biệt. Hiện tại Việt Nam đã có lực lượng kỵ binh, được sử dụng ở biên giới đi tuần tra do không có đường sá phải dùng ngựa, kỵ binh sẽ được dùng trong bất kể công việc gì cần thiết, thậm chí là lễ tân nhà nước, nghi thức quốc gia, phòng chống tội phạm, tuần tra kiểm soát. Hay tại thảo nguyên Khau Sao (Lạng Sơn) là nơi chăn thả hơn 1.700 con ngựa, trong đó có hơn 700 con ngựa bạch thuần chủng nguồn gốc từ Việt Nam. Nơi đây được coi là “vương quốc” ngựa lớn nhất Việt Nam.
Tại vùng gò đồi ở Gò Thì Thùng (Đắk Lắk) cũng có nhiều hộ gia đình nuôi ngựa để phục vụ lao động, lễ hội và du lịch. Ngựa nuôi dùng để thồ hàng, phục vụ nhu cầu đi lại và bán cho các vùng khác. Ngựa xứ Nẫu (Phú Yên cũ) từng được xem là giống ngựa tốt, thường được chọn dâng triều đình làm “ngựa dụng”. Là xứ ngựa nổi tiếng vùng đất xứ Nẫu xưa nay được xem như là xứ sở của ngựa của người Việt. Hay trên cao nguyên Langbiang (Lâm Đồng) cũng có nhiều người dân nuôi ngựa để phục vụ du lịch.
Trong đời sống văn hóa Việt Nam, con ngựa đã trở thành hình tượng đẹp. Ngựa không chỉ giúp xây dựng và bảo vệ đất nước, mà còn là công cụ lao động tạo ra của cải vật chất, vừa là nguồn cung cấp thực phẩm và nguyên liệu thuốc quý. Ngựa còn là một trong những con vật chính được sử dụng trong mỗi dịp năm mới xuân về ở các lễ hội văn hóa như tham gia trong đoàn rước, là ngựa đua trong các hội đua ngựa truyền thống của các dân tộc vùng cao như Lào Cai, Lai Châu trên cao nguyên Bắc Hà, cao nguyên Langbiang hay Gò Thì Thùng... góp phần gìn giữ đời sống văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc của dân tộc.
Bùi Hữu Cường