Trân quý từng mùa xuân thống nhất

Trân quý từng mùa xuân thống nhất
2 giờ trướcBài gốc
Thái Nguyên hôm nay.
Trở về từ nơi sơ tán
Đêm 17 tháng 10 năm 1965, gia đình tôi dắt díu nhau đi sơ tán. Trận bom khủng khiếp của máy bay Mỹ dội xuống cầu Gia Bẩy vào lúc gần 10 giờ sáng khiến toàn bộ cư dân phố Bến Than (khi đó thuộc Tiểu khu Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên) theo lệnh chính quyền phải lập tức rời nhà di chuyển đến nơi trú ẩn an toàn.
Năm ấy tôi mới ba tuổi, ngủ chập chờn trong chiếc thúng tre mẹ gánh trên vai. Ở thúng bên kia là những vật dụng thiết yếu nhất cho cuộc sống của gia đình năm người. Chúng tôi lầm lũi đi trong đêm để tránh máy bay địch phát hiện, gương mặt ai cũng hằn nỗi lo âu.
Gia đình tôi nhanh chóng ổn định cuộc sống trong vòng tay đùm bọc của người dân xã Phúc Trìu (nay là xã Đại Phúc). Những đêm trăng sáng, lũ trẻ con chơi trò trốn tìm, còn người lớn miệt mài đào hầm trú ẩn. Tiếng cuốc xẻng thình thịch, tiếng đất đổ rào rào, mùi đất ẩm, mùi tre tươi, mùi mồ hôi quyện đặc không gian.
Tôi được bố mẹ dạy cách nghe tiếng còi báo động, cách lần tường tìm lối xuống hầm, cách che ngọn đèn dầu cho ánh sáng chỉ vừa đủ soi con chữ, cách bịt tai ôm gối khi bom nổ gần. Tuổi thơ của tôi gắn với chiếc mũ rơm, tấm áo xanh màu lá, đôi tai luôn dỏng lên nghe động tĩnh trên trời, và đôi chân lúc nào cũng sẵn sàng chạy về phía hầm trú ẩn.
Rồi đại thắng mùa xuân năm 1975, non sông thu về một mối, Bắc-Nam sum họp một nhà. Với gia đình tôi, thời khắc mong chờ bấy nay đã đến: trở về thành phố, dựng lại ngôi nhà trên nền đất cũ.
Cô bé ba tuổi là tôi ngày ra đi đã trở thành thiếu nữ tuổi mười ba ngày trở về. Tôi tò mò nhìn ngọn “đèn treo ngược”, nhìn dòng sông chảy trước nhà, nhìn cầu Gia Bẩy lặng lẽ, nhìn phố xá xào xạc, nghèo mà thân thương.
Gọi là thành phố nhưng đường xá chưa trải nhựa, nhà cửa làm bằng tranh tre, phương tiện đi lại chủ yếu là xe đạp hoặc đi bộ. Trường cấp 2 Nha Trang nơi tôi học thiếu đủ bề, bàn ghế thiếu, chúng tôi phải ngồi trên cục gạch, kê vở lên chiếc ghế gỗ mà viết bài.
Đón xuân trong hân hoan
Rồi cái Tết Hòa bình sum họp đầu tiên cũng đến. Gạo, thịt đều bán theo tiêu chuẩn tem phiếu, vậy mà mẹ tôi nói với hàng xóm: “Tết năm nay phải ăn thật to!”.
“Ăn to” với mẹ tôi trước hết là nhà cửa phải sạch sẽ, tinh tươm. Trước Tết cả tháng, bố tôi đào hố, mang vôi cục về thả vào nước cho sôi lục bục. Khi vôi chín, mẹ hòa nước quét tường. Chiếc chổi rơm cùn nhúng vào nước vôi đặc, quét đi quét lại nhiều lần, bức tường đất xám xịt dần trắng lên, ngôi nhà sáng sủa hẳn. Chị em tôi cũng tất bật lau dọn. Từ chân giường, chân bàn, ghế đến nồi niêu, chảo, cái rế… đều được mang ra chà bằng tro cát cho sạch bóng.
Hồi ấy, nhà nào cũng trang trí gần giống nhau. Đối diện cửa ra vào là chiếc bàn tiếp khách, phía trên treo ảnh Bác Hồ, dưới đặt lọ hoa giấy cắm vài cành lay ơn, thược dược. Hai bên là câu đối đỏ với lời chúc bình dị: “An khang thịnh vượng”, “Vạn sự như ý”.
Đêm ba mươi Tết, chị em tôi ríu rít canh nồi bánh chưng. Củi mang từ nơi sơ tán về cháy rực, than hồng đỏ lửa. Mẹ “vần” nồi nước lá mùi già, từng người lần lượt tắm gội để bước sang năm mới sạch sẽ, thơm tho. Không khí ấm sực mùi nếp, mùi lá dong, mùi hạt tiêu.
Giao thừa đến, pháo nổ râm ran khắp phố. Chị tôi xuống sông gánh hai thùng nước đầy, nhún đòn gánh cho nước sánh ra nhà, vừa cười vừa chúc: “Năm mới tiền vào như nước!”.
Niềm mong chờ lớn nhất của tôi là được mặc áo mới đi chơi Tết. Suốt thời niên thiếu chỉ mặc áo sẫm màu để tránh máy bay, Tết này tôi được diện chiếc áo trắng cổ lá sen thơm mùi vải mới, món quà mẹ bí mật may cho con gái út, rộng thùng thình “để còn lớn nữa”.
Thành phố sau chiến tranh thưa vắng. Nơi đông người nhất là Bảo tàng. Với tôi, Bảo tàng là một thế giới vừa kỳ bí vừa lộng lẫy, với những dãy nhà đồ sộ nối nhau bằng hành lang dài, những tủ kính chứa đầy kỷ vật đậm màu thời gian. Giọng chị thuyết minh trầm ấm khiến tôi say mê, lang thang mãi không muốn rời.
Ba ngày Tết, phố xá rộn ràng lời hay ý đẹp. Người gặp người, nhà qua nhà, lời chúc đan như mắc cửi.Sau lời chúc là những dự định giãi bày. Ai cũng mở đầu bằng một câu đầy hy vọng: “Hòa bình rồi, tha hồ yên tâm làm ăn.” Và quả thật, chỉ sau Tết, nhiều gia đình đã mở quán ăn, hiệu may, hàng cắt tóc… Không khí lao động hân hoan lan tỏa khắp phố phường.
Tri ân và tưởng nhớ
Mười một năm sau ngày 17 tháng 10 đau thương, xuân năm ấy, những lời chia sẻ được nhắc lại trong sự điềm tĩnh. Bố mẹ tôi đến thăm các gia đình có người thân mất và trò chuyện thật lâu. Sống trong hòa bình, nỗi nhớ thương người đã khuất càng thêm da diết.
Những dân quân tự vệ hy sinh khi bảo vệ cầu Gia Bẩy đã được công nhận liệt sĩ. Con cái họ được đi học, gia đình được Nhà nước quan tâm. Bố mẹ tôi cũng đến chia vui với những gia đình có người thân trở về từ chiến trường. Bên chén trà “bồm” mua theo tiêu chuẩn từ cửa hàng mậu dịch, người phố lặng im nghe chuyện nơi mũi tên, hòn đạn.
Có người trực tiếp cầm súng, có người làm công tác hậu cần, tất cả đều là những “người hùng” trong mắt chúng tôi. Và với những người mẹ, người vợ có chồng, con từ chiến trường trở về nguyên vẹn, mùa xuân 1976 chính là mùa xuân hạnh phúc nhất.
Đã tròn nửa thế kỷ trôi qua kể từ mùa xuân ấy. Phố thị hôm nay đường rộng mở, nhà cao tầng san sát, cầu Gia Bẩy mới được đầu tư xây mới, hứa hẹn sẽ là công trìnhtự hào của người Thái Nguyên. Nhưng trong tôi, mùa xuân của những ngày đầu đất nước độc lập, thống nhất vẫn vẹn nguyên. Đó là mùa xuân của ánh lửa bập bùng bên nồi bánh chưng, của mùi lá thơm nồng đêm giao thừa, là mùa xuân đầu tiên chúng tôi được sống trọn vẹn trong tự do, hạnh phúc.
Có lẽ, chỉ những ai đã đi qua chiến tranh mới hiểu hết giá trị của hai chữ hòa bình. Với tôi, ký ức về mùa xuân thống nhất, độc lập, tự do ấy chính là nguồn mạch nuôi dưỡng niềm tin yêu cuộc sống, để suốt những năm tháng sau này, giữa bao đổi thay của cuộc đời, tôi trân quý từng ngày yên ả, từng mùa xuân bình dị trên quê hương mình.
Minh Hằng
Nguồn Thái Nguyên : https://baothainguyen.vn/xa-hoi/202605/tran-quy-tung-mua-xuan-thong-nhat-0da4aa1/