Những cánh đồng xanh mướt mát khiến cho “bức họa” làng quê đẹp hơn.
Tháng hai âm lịch hẵng còn chưa khép lại vậy mà nắng đã như đổ lửa, cây cối trong vườn nhà đương độ xuân sang dường như cũng đang căng mình chống đỡ với nắng nóng. Mẹ chép miệng, năm nay có lẽ nàng Bân mải vui không về, hay có lẽ cũng đã đi trốn nắng ở nơi nào. Thời tiết cứ thất thường thế này, biết đâu đến một ngày, nàng Bân cũng quên cả việc đan áo! Nghe mẹ thở than tôi lại thấy thú vị. Thế mới biết trí tưởng tượng của người Việt xưa nay vẫn thực vô cùng phong phú. Nhưng mà, nắng nóng là thật. Nếu không nhìn lên cuốn lịch treo tường để biết ngày tháng, có lẽ còn tưởng đất trời đã bước vào chính hạ.
Tranh thủ buổi sáng còn mát mẻ, mẹ bảo ra thăm đồng xem lúa, ngô thế nào. Cuối tuần rảnh rỗi, tôi đi cùng bà. Nhà tôi ở ven làng, từ nhà ra đồng chỉ vài phút thong thả đi bộ. Trong làng nắng nóng là thế, mà ra đến ngoài này, không gian bát ngát, gió sớm mai thổi mát lành, thật sảng khoái.
Quê tôi bên sông Mã, bên này đê là đồng ruộng cấy lúa, ngoại đê là bãi bồi tốt tươi, người làng thường trồng rau màu, bầu bí, ngô... mùa nào thức nấy. Với những người sinh ra từ làng, lớn lên cùng những ngô, khoai, thóc lúa thấm đẫm mồ hôi mặn của bố mẹ như tôi, không gian đồng ruộng nhọc nhằn nhưng cũng chan chứa yêu thương ấy là tuổi thơ, là một phần cuộc sống. Bởi vậy, mỗi khi về qua nhà, tôi luôn có cớ để chạy ra cánh đồng làng, chỉ để được thả lỏng bản thân trong không gian mênh mông bát ngát ấy, lặng nhìn từng làn gió mát lành lướt khẽ trên ruộng, mềm mại như dải lụa khổng lồ uốn lượn. Không gian ấy, đẹp hơn một bức tranh.
Nhưng rồi, dần dà trên cánh đồng làng tôi, những đám ruộng bỏ hoang, chẳng cấy cày mỗi năm nhiều hơn. Ở đó, cỏ mọc rậm rì, chuột bọ trú nấp. Người ta bỏ ruộng không hẳn vì không còn yêu ruộng, mà khi đặt bài toán kinh tế, chuyện đầu tư công sức, cấy cày, phân tro cho dăm sào ruộng vẫn thường có nhiều rủi ro, chuyện được - mất dường như vẫn phải nhờ trời. Và khi xã hội phát triển, người lao động có nhiều lựa chọn mưu sinh hơn, thì đồng ruộng quê nhà lại trở thành lựa chọn thứ yếu. Dễ hiểu vì sao, việc cấy hái ở quê bây giờ, đa phần là người đã có tuổi. Họ, hoặc là không còn đủ tuổi để được tuyển dụng làm công nhân ở các khu công nghiệp, hoặc cũng chưa đến tuổi nghỉ ngơi hoàn toàn...
“Lúa vụ này tốt nhưng bị chuột phá nhiều quá bác Lan nhỉ . Đám lúa nhà em giăng túi bóng kín cả rồi bọn chuột vẫn cắn “mất khoảng”, nhỏ thì như cái dần, có đám rộng như cái nia, những chỗ mất em chẳng buồn “chắm” nữa” - mẹ tôi cất lời thở than với bác hàng xóm.
“Nhà tôi cũng đâu khá hơn nhà cô. Việc cấy cày ngày càng khó khăn, đầu tư thì nhiều. Trước đây mỗi nhà chỉ cần cấy dăm sào ruộng là có lúa ăn, không sợ đói. Nhưng bây giờ, người ta đi công ty một tháng, tiền lương có thể mua được cả tấn thóc rồi, nên nhiều nhà chẳng còn mặn mà việc cấy hái. Cứ tình hình này, có lẽ chỉ mươi năm nữa, nếu như những người như tôi với cô không còn đủ sức để làm ruộng, có khi lại hoang hóa cả... Nhưng cũng không hẳn là vậy, bây giờ tôi thấy ở nhiều nơi, cả cánh đồng rộng lớn hàng vài chục mẫu mà chỉ có một, hai người làm. Người ta mua máy cày, máy cấy, rồi cả máy phun thuốc... Tất cả đều dùng máy móc, làm như thế tiết kiệm được sức lao động. Mà tôi nói với cô nhé, ruộng cấy vài sào thì thu chẳng bù chi, chứ cấy vài chục mẫu thì lãi cũng khá lắm” - bác Lan hàng xóm đáp lời.
Nghe bác Lan nói, tôi đứng ở bên ngẫm cũng đúng. Đồng ruộng thì màu mỡ, sao nỡ bỏ hoang phí. Rồi sẽ đến lúc, việc cấy cày chẳng thể manh mún, nhỏ lẻ nữa, người ta sẽ phải tập trung cơ giới hóa hết cả. Nghĩ đến một ngày việc cấy hái cả cánh đồng làng rộng lớn chỉ còn là công việc của một vài hộ nông dân, người ta sẽ tập trung làm hết sức, thu hoạch hết mình và khi ấy, làm ruộng cũng sẽ mang lại một nguồn thu nhập khá cho người nông dân, xứng đáng với công sức họ đã bỏ ra.
Với tôi, khi những cánh đồng làng cứ mãi mát xanh, vàng óng - mỗi năm hai vụ cấy hái. Tôi sẽ có chốn bình yên để thong thả bước chân trần đi trên đó mỗi buổi sớm mai hay chiều tà. Niềm vui cuộc sống, đôi khi đến từ những điều bình dị như thế.
Khánh Lộc